Cabal, illuminati và hơn thế nữa 4
Mời đại tiệc buổi sáng cho những ai đã từng nhìn thấu cách thức mà thế giới hoạt động giờ này.
Xem và ngẫm đến chương trình Big reset mà đám deep sờ tếch, các big tếch, big me. Dia, big phạc ma….đã thao túng loài người qua trận dịch cúm tàu này ra sao?
Thân phận nhược tiểu của xứ Đông Lào sẽ đi về đâu với những “ đỉnh cao trí Tệ” đã phơi bày đầy đủ những yếu kém, trì trệ, quan liêu…qua cách điều hành vừa yếu vừa kém.
Trích “ Bởi vì, xét cho cùng GDP - chỉ số chính mà chúng ta dùng để đo lường sự phát triển của nền kinh tế - không phải là một thước đo tốt cho một xã hội công bằng - dân chủ - văn minh. GDP không đo được mức độ tàn phá môi trường, mức độ sử dụng cạn kiệt các nguồn tài nguyên, hay mức độ hạnh phúc của dân chúng. GDP không thể hiện được sự bất bình đẳng về thu nhập và tài sản, không thể hiện được chất lượng cuộc sống của phần đông dân số, hay mức độ hài lòng của người dân về nền dân chủ [14]. Xét cho cùng, một người đàn ông độc thân, ly dị, làm một lúc 3 công việc và phải ăn ngoài suốt do không có thời gian, mắc nợ thẻ tín dụng kinh niên, bị stress dẫn đến béo phì và các bệnh khác sẽ làm GDP tăng lên nhiều so với một gia đình đầm ấm hạnh phúc, sống khiêm tốn đúng với khả năng của mình, hạn chế mắc nợ và không phải đến bệnh viện thường xuyên (trừ những lần khám định kỳ).
Nếu chúng ta dùng phương pháp đo lường sai, chúng ta sẽ theo đuổi sai mục tiêu: sự thừa mứa, phung phí, sự tiêu dùng vô độ, sự theo đuổi vật chất cũng như bỏ quên đi những giá trị khác giúp cho cuộc sống đáng sống hơn. Việt Nam là một quốc gia có thu nhập trung bình, đối với tôi cũng không hề gì, nếu như đất nước của tôi sống dân tộc được độc lập, dân chủ được tự do, dân sinh được hạnh phúc. Việt Nam là một quốc gia có thu nhập trung bình, đối với tôi cũng không hề gì, nếu như môi trường sống trong lành, thiên nhiên không bị tàn phá, và con người Việt Nam dừng theo đuổi những điều quá độ khiến cho chất lượng cuộc sống của họ giảm sút.”
Các quốc gia như Bhutan, Mông Cổ, Lào, Mauritius….GDP trung bình, môi trường ko bị huỷ hoại nhưng họ vẫn luôn có chỉ số hạnh phúc cao ngất ngưởng đó thôi.
Tiền nhiều mà để làm gì? Dừa đủ xài là ok nhứt rùi
.
————————-
CÂU LẠC BỘ CÁC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN: MỘT BỮA TIỆC BẤT TẬN KHÔNG AI PHẢI RỜI ĐI?
Mặc dù còn nhiều khó khăn ở phía trước, song Việt Nam vẫn rất quyết tâm tham gia “câu lạc bộ các quốc gia phát triển” với mục tiêu trở thành nước có thu nhập trung bình-cao vào năm 2030, và có thu nhập cao vào năm 2045 [1]. Không tính đến nỗ lực tự thân, liệu trong bối cảnh nền kinh tế tư bản hậu kỳ và toàn cầu hóa cao độ như hiện nay, mục tiêu đó có khả thi với Việt Nam hay không? Nói cách khác, liệu cơ cấu vận hành của chủ nghĩa tư bản hậu kỳ có cho phép đại đa số quốc gia trên thế giới đạt mức thu nhập cao, phát triển thịnh vượng hay không?
Trong tập phim thứ ba của sê-ri phim hoạt hình đình đám Love, Death, Robot của đạo diễn David Fincher (người đã thành danh với những bộ phim kinh điển như Fight Club, The Curious Case of Benjamin Button, và Gone Girl) có tên là Pop Squad, có một cảnh tượng đã khiến tôi phải suy nghĩ mãi. Bối cảnh của Pop Squad là một thế giới phân tầng cực đoan và rõ rệt, với giai cấp cai trị bất tử sống ở những tòa tháp cao vút, vượt lên trên những tầng mây, miên man trong những buổi tiệc kéo dài mãi mãi không hồi kết. Đối lập lại là giai cấp bị trị phàm trần, sống ở thế giới tối tăm sát mặt đất, trong những khu phố tồi tàn và bẩn thỉu. Những người sống ở dưới mặt đất đã từ bỏ sự bất tử của mình để được quyền sinh con đẻ cái - thứ bản năng thiêng liêng nhưng nay đã trở thành bất hợp pháp. Những đứa trẻ sinh ra sẽ bị các “thám tử” săn lùng và “giải quyết”. Lý do ư? “Không có buổi tiệc nào có thể kéo dài mãi mãi nếu như người ta cứ kéo đến mà không ai rời đi cả.”
Thoạt nghe thật là hợp lý - tài nguyên thế giới là có hạn, và chắc chắn tất cả mọi người không thể cùng giàu có được, nếu như dân số cứ mãi mãi tăng lên không có điểm dừng. Nhưng thế giới thực có nhất thiết giống với những bộ phim viễn tưởng, liệu bất cứ ai và quốc gia nào cũng có thể giàu có và thịnh vượng được hay không?
1. Đặc điểm của bữa tiệc tư bản, nhìn từ Mỹ
Nền kinh tế của phần lớn các quốc gia trên thế giới, và thậm chí là nền kinh tế thế giới, chính là một nền kinh tế trộn lẫn giữa thị trường và sự can thiệp của nhà nước [2]. Nếu chúng ta loại trừ các yếu tố can thiệp bởi các bên liên quan, như luật pháp và hệ thống thuế được đặt ra bởi nhà nước, thì chủ nghĩa tư bản về cơ bản là sự tập trung của cải về tay một thiểu số [3]. Điều này là một sự thực có thể được chấp nhận rộng rãi không cần qua chứng minh; và Thomas Piketty - một trong những học giả hàng đầu thế giới về tình trạng bất bình đẳng thu nhập, trong cuốn sách kinh điển Tư bản Thế kỷ 21, đã minh họa cho sự thực này qua các nghiên cứu mang tính định lượng cũng như các dữ liệu thống kê trên quy mô toàn cầu.
Một ví dụ đơn giản cho sự tích lũy tư bản có thể kể đến hãng bia Heineken và người thừa kế hiện tại, bà Charlene de Carvalho-Heineken - người sở hữu hơn 23% cổ phần hãng bia nổi tiếng thế giới này, với tổng giá trị lên đến 18 tỷ USD. Ông cố Charlene là Gerard Adriaan Heineken đã “sáng lập” ra hãng bia danh tiếng này bằng cách... xin tiền mẹ ông để mua lại hãng bia De Hooiberg với nhãn hiệu bia Haystack phổ biến thời bấy giờ [4]. Những người thừa kế của gia sản kếch xù này chỉ cần không “phá của” thôi, đã là quá đủ để lọt vào danh sách những tỷ phú giàu có nhất thế giới. Hoặc chúng ta có thể kể đến bảy người con của Sam Walton - người sáng lập ra chuỗi bán lẻ khổng lồ Walmart và Sam’s Club tại Mỹ. Gia sản của gia đình quyền lực này lên đến 247 tỷ đô-la Mỹ tính đến cuối năm 2020, với 3 người con giàu nhất thường xuyên có mặt trong danh sách 20 tỷ phú giàu nhất thế giới [5]. Trong khi đó, một gia đình tiêu biểu ở Mỹ có tổng giá trị tài sản chỉ rơi vào khoảng 127 nghìn USD, tính theo số trung vị, hoặc 748 nghìn USD, tính theo số trung bình [6].
Sự chênh lệch lên đến gần 6 lần giữa hai con số (trung vị và trung bình) này cho thấy những “kẻ ngoại lệ” ở tầng chóp bu như gia đình Sam Walton khiến cho số trung bình bị lệch lên trên quá nhiều. Thực vậy, nếu gia sản đại diện cho khả năng làm việc, thì Alice Walton với gia sản 70 tỷ USD phải có khả năng làm việc gấp 551 ngàn lần so với một gia đình Mỹ tiêu biểu. Dĩ nhiên, không có khả năng một người có thể làm việc hiệu quả gấp 551 ngàn lần so với một gia đình khác - tức là sự phân chia tài sản này hoàn toàn không dựa trên nguyên lý bình đẳng hay công bằng, mà dựa trên sự tích lũy và thừa kế tích lũy tư sản truyền từ đời này sang đời khác.
Chưa dừng lại ở đó, những nhà đại tư bản này còn nhận được sự ưu ái đặc biệt từ hệ thống hành pháp và lập pháp của các quốc gia tư bản thông qua các chính sách tiền tệ lỏng lẻo và những gói cứu trợ chính phủ khổng lồ. Có nhiều thứ để nói về luận điểm này, nhưng nổi bật và dễ thấy nhất là những gì đã diễn ra trong cuộc khủng hoảng thị trường địa ốc Mỹ và theo sau đó là cuộc đại suy thoái kinh tế thế giới năm 2008, khi một số ngân hàng lớn đã được “tháo bỏ” các quy định khó khăn trong việc mua bán trên thị trường địa ốc phái sinh. Vì chạy theo lợi nhuận, các ngân hàng này đã tham gia mua bán các sản phẩm chứng khoán đảm bảo bằng thế chấp (MBS) đầy rủi ro (và béo bở) của Freddie Mac và Fannie Mae - hai công ty hàng đầu trong lĩnh vực MBS. Khi giá nhà rơi thảm hại, các loại chứng khoán này cũng theo đó mà giảm giá, dẫn đến khủng hoảng về niềm tin khả năng thanh toán đối với các khoản nợ được đảm bảo bởi MBS. Một khi niềm tin vào khả năng thanh toán biến mất, một hiệu ứng ngưng cho vay liên ngân hàng dây chuyền đã nổ ra trên diện rộng, dẫn đến một cuộc suy thoái kinh tế kéo dài trên quy mô toàn cầu [7]. Đây hoàn toàn là một “cuộc chơi” giữa các ông lớn, và nguyên nhân trực tiếp của cuộc khủng hoảng này chính là lòng tham của họ khi tham gia mua bán MBS đầy rủi ro. Thế nhưng, người gánh chịu hậu quả trực tiếp của cuộc khủng hoảng này lại chính là người dân Mỹ, khi mà chính phủ Mỹ đã mang một lượng tiền mặt khổng lồ bơm ra thị trường để “cứu trợ” cho những định chế tài chính được gọi là “quá lớn để có thể ngã” này.
417 tỷ USD Mỹ đã được chính phủ rút ra khỏi ngân sách, cho các bên liên quan trực tiếp đến cuộc khủng hoảng tài chính này mượn theo Chương trình Giải cứu tài sản gặp khủng hoảng (Troubled Asset Relief Program – TARP) [8]. Trong giai đoạn khủng hoảng, tỷ lệ thất nghiệp tăng lên gần 10%. Nhiều người dân Mỹ đã phải sống trong cảnh nợ nần, thấp thỏm trong nỗi lo mất nhà. Không ít trường hợp đã mất việc, mất nhà cửa, mất khả năng thanh toán và trở thành người vô gia cư: Năm 2008, đã có 159.000 gia đình trong tình trạng vô gia cư. Năm 2009 con số này tăng lên 170.000 (để so sánh, năm 2007 con số gia đình vô gia cư là 131.000 gia đình) [9]. Đáng nói nhất, những người đáng lẽ ra phải chịu trách nhiệm trực tiếp cho cuộc khủng hoảng này - những kẻ ra quyết định tại các ngân hàng đầu tư mạo hiểm - đã hoàn toàn không phải chịu một chút trách nhiệm nào. Thậm chí, họ còn nhận được những gói lương thưởng kếch xù khi bị “buộc” thôi việc.
Chưa dừng lại ở đó, việc phục hồi sau khủng hoảng cũng hoàn toàn mất cân đối với phần lớn thu nhập tăng lên rơi vào tay những người vốn có thu nhập cao sẵn. Theo một nghiên cứu của Pew Research Center, giới trung lưu Hoa Kỳ, chiếm 51% dân số, chỉ chiếm gần 43% tổng thu nhập vào năm 2018; trong khi đó, 20% dân số có mức thu nhập cao chiếm đến gần 48% tổng thu nhập. Đáng nói là, phần trăm dân số có thu nhập thấp đã tăng từ 25% (1970) lên 29% (2018), trong khi miếng bánh thu nhập của họ lại giảm từ 10% xuống dưới 9%. Thêm vào đó, trong giai đoạn từ 2011-2018, sự tăng trưởng về thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất cũng vượt trội so với 80% còn lại. Hệ quả là, dân số có thu nhập cao đã thâu tóm 79% tổng tài sản, trong khi dân số thu nhập trung bình chứng kiến miếng bánh tài sản mình giảm từ 32% xuống còn 17%, và dân số thu nhập thấp bị giảm từ 7% còn 4% [10].
Tệ hơn nữa, một thống kê của Washington Post cho thấy 1% dân số Hoa Kỳ có thể sở hữu đến 40% tổng tài sản [11]. Mức độ bất bình đẳng về cả thu nhập và tài sản ở mức cao như vậy là chưa từng thấy kể từ Thời kỳ Mạ vàng (the Gilded Age) cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, khi mà bất công xã hội đã được đẩy cao đến đỉnh điểm, giới chóp bu sống trong xa hoa nhung lụa còn giới lao động phổ thông bị vắt đến kiệt quệ. Sự tập trung tài sản này tựa như hình ảnh một thanh kim loại chỉ mạ một lớp vàng mỏng ở bên trên.
Câu chuyện ở trên là một câu chuyện điển hình ở một quốc gia có hệ số Gini - hệ số đo sự bất bình đẳng thu nhập và tài sản - cao như Mỹ [12]. Nói vậy không có nghĩa là ở những quốc gia có hệ số Gini thấp, sự bất bình đẳng ấy không xảy ra. Dựa trên sự độc quyền chiếm hữu đối với phương tiện sản xuất, giai cấp tư sản trong lịch sử đã có một thời kỳ tích lũy tư sản dài hơi và đẫm máu; thông qua việc kế thừa tài sản và lãi kép, khối tài sản tích lũy đó đã trở thành một chướng ngại vật không thể vượt qua đối với bất kỳ ai hy vọng xây dựng được một xã hội công bằng hơn.
Trong lịch sử, sự bất bình đẳng này chỉ bị “sứt mẻ” khi có những biến cố phi thường về chính trị xảy ra - đảo chính, chiến tranh, ly khai hoặc thành lập quốc gia mới. Sự bất bình đẳng của thời kỳ “Mạ vàng” nhắc đến ở trên đã bị xóa nhòa bớt bởi hai cuộc thế chiến, dẫn đến sự ra đời của giai cấp trung lưu vốn chiếm đa số ở Mỹ. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế tư bản thời bình, giai cấp trung lưu ấy đã bị teo tóp lại, và sự bất bình đẳng đã theo đó mà tăng lên không phanh. Có thể thấy, nếu chúng ta “để yên” cho giới tư sản muốn làm gì thì làm theo tinh thần laissez-faire, sớm hay muộn toàn bộ của cải xã hội cũng sẽ bị một thiểu số chóp bu thâu tóm như những gì đã xảy ra trong lịch sử hết lần này đến lần khác. Để hạn chế sự bất bình đẳng này, các chính phủ hiện đại thường sẽ không bao giờ để cho chủ nghĩa tư bản mặc sức muốn làm gì theo ý nó thì làm (laissez-faire), mà luôn có sự can thiệp vào nền kinh tế thị trường thông qua các chính sách thuế, luật lao động, và luật chống độc quyền.
Cùng với các tiến bộ về khoa học công nghệ, nhất là trong lĩnh vực tự động hóa và trí tuệ nhân tạo, các quốc gia phát triển đã gần như giải quyết được hoàn toàn bài toán lương thực, cũng như bài toán nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân của họ, ngay cả những người ở dưới đáy của xã hội. Trên lý thuyết, luật lao động và công đoàn khiến cho các tập đoàn tư bản không được mặc sức bóc lột người lao động nữa; luật chống độc quyền đảm bảo không có sự lũng đoạn thị trường của một nhóm lợi ích rất nhỏ; và chính sách thuế cấp tiến cho phép phân bổ lại một phần thu nhập khổng lồ từ một nhóm rất nhỏ sang những người bị ảnh hưởng trực tiếp bởi chính sự bất bình đẳng thu nhập đó. Bằng cách giới thiệu các yếu tố “xã hội chủ nghĩa” trên vào mô hình kinh tế kết hợp, chủ nghĩa tư bản truyền thống đã biến thể sang một dạng mới: Chủ nghĩa tư bản hậu kỳ (Late capitalism, late-stage capitalism).
2. Tiệc kéo dài hơn, nhưng không phải ai cũng được mời
Chủ nghĩa tư bản hậu kỳ có ba đặc điểm nổi trội như sau: Thứ nhất, nó xảy ra trên quy mô toàn cầu, và là nguyên nhân cũng như là sự thúc đẩy mãnh liệt đối với hiện tượng toàn cầu hóa (globalization). Thứ hai, nó xói mòn mọi nền văn hóa địa phương, kiến tạo nên một nền văn hóa toàn cầu thống trị bởi văn hóa thị giác và điều khiển bởi các phương tiện truyền thông đại chúng. Thứ ba, nó hàng hóa hóa (commoditize) mọi giá trị hữu hình và vô hình, bao gồm cả con người [13]. Sự bóc lột và tích lũy tư bản, vốn gói gọn trong phạm vi một lãnh thổ nhất định nơi xảy ra cách mạng tư sản, nay diễn ra trên phạm vi toàn cầu.
Khác với sự đô hộ đẫm máu và cướp bóc trắng trợn của chủ nghĩa thực dân, sự bóc lột lần này diễn ra tinh vi hơn nhiều. Những công ty đa quốc gia, liên lục địa khổng lồ đã ra đời, với đầu não công ty ở các quốc gia đã phát triển, còn công xưởng, nhà máy được đưa đến các quốc gia đang phát triển, nơi có luật lao động, công đoàn lỏng lẻo, chính sách thuế ưu đãi, và có sức mạnh đàm phán thấp. Lần này, “phương tiện sản xuất” không chỉ là tiền hay máy móc nữa, mà còn là sở hữu trí tuệ (Intellectual Property – IP). Bằng cách nắm giữ các sở hữu trí tuệ này - bao gồm bí mật kinh doanh, phương pháp sản xuất, bí mật khoa học kỹ thuật - các quốc gia đã phát triển có thể nắm được phần lớn thặng dư đến từ sản xuất. Các quốc gia đang phát triển, ngược lại, phải gánh chịu các hệ quả nặng nề về môi trường, tài nguyên và xã hội để đổi lại một phần nhỏ giá trị thặng dư mà họ làm ra.
Với tư cách là pháp nhân, các công ty này có thể được xem là bất tử - nó không phải chịu sự giới hạn về tuổi thọ như con người, do đó sự tích lũy tư sản qua hàng trăm năm của các công ty này hoàn toàn không phải chịu thuế thừa kế. Thêm vào đó, với “quân át chủ bài” là sở hữu trí tuệ, các quốc gia phát triển hoàn toàn áp đảo các quốc gia đang phát triển trên bàn đàm phán các hiệp định thương mại tự do (FTA – Free Trade Agreement), khiến cho họ phải dỡ bỏ hoàn toàn hoặc phần lớn các rào cản thuế quan vốn có nhiệm vụ bảo vệ ngành công-nông nghiệp trong nước.
Có thể thấy, sự bóc lột và tích lũy tư sản trên phạm vi toàn cầu, trong bối cảnh tư bản hậu kỳ, giữa nước giàu (đã phát triển) và nước nghèo (đang phát triển) là gần như không có đối sách tốt để giải quyết. Ở trong phạm vi một quốc gia, chúng ta có thể đánh thuế thu nhập, thuế tài sản, thuế thừa kế; chúng ta có thể ban hành các luật lao động và luật công đoàn; cũng như có thể phá vỡ các siêu tập đoàn độc quyền, lũng đoạn thị trường. Thế nhưng, trên đấu trường quốc tế, các nước đang phát triển gần như không có đối sách gì đối với sự thu hút, tập trung tư bản lên phía thượng tầng, tức các nước đã phát triển. Nói cách khác, số lượng các quốc gia đã phát triển là có giới hạn - nếu không muốn nói là thiểu số - và nếu chúng ta, một quốc gia trung bình gần như mọi phương diện, muốn vươn lên tham gia “Câu lạc bộ các quốc gia phát triển”, chúng ta cần phải mau chóng vượt qua những quốc gia đang phát triển khác, và bằng một cách thần kỳ nào đó, lọt được vào thượng tầng thu nhập và tài sản. Bữa tiệc vui không thể kéo dài mãi, nếu như người ta chỉ đến mà không ai rời đi. Để có một tầng lớp bất tử trị vì ở trên cao, cần có những kẻ thứ dân bị trị lầm than ở dưới mặt đất.
Đã nhìn rõ bản chất của chủ nghĩa tư bản hậu kỳ như thế, liệu chúng ta có còn hy vọng nào để Việt Nam tiến lên gia nhập “Câu lạc bộ các quốc gia phát triển”? Dưới góc nhìn lịch sử, khả dĩ có hai cách, đều khó khăn như nhau. Cách thứ nhất là thiết lập trật tự thế giới mới thông qua sự hỗn loạn. Tương tự như việc bất bình đẳng thu nhập và tài sản có khuynh hướng thu hẹp lại sau chiến tranh hoặc bất ổn chính trị trên phạm vi quốc gia, việc bất bình đẳng trên phạm vi quốc tế cũng có thể được thu hẹp nếu như có một sự bất ổn chính trị sâu sắc trên phạm vi quốc tế, thậm chí có thể dẫn đến xung đột, chiến tranh để thiết lập lại trật tự thế giới mới. Đây là cách mà Đức Quốc Xã đã chọn, khi nó không còn đất để thở vì phát triển chủ nghĩa thực dân đế quốc chậm hơn so với các đế quốc khác ở châu Âu. Cách thứ hai, chúng ta phải đẩy mạnh quá trình bóc lột và tích lũy tư bản của chính mình lên hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, qua việc nắm giữ được phương tiện sản xuất quan trọng nhất trong tư bản hậu kỳ - sở hữu trí tuệ. Đây là cách mà Trung Quốc hiện đang chọn thực hiện, với việc liên tục và không ngần ngại ăn cắp các bí mật công nghệ của phương Tây để biến thành của riêng của mình, học hỏi cách xuất khẩu tư bản của những quốc gia đi trước: đẩy mạnh việc đầu tư nhà máy, công xưởng vào châu Phi giàu khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên, thiết lập các hiệp định thương mại tự do, cho vay và đầu tư công theo mô hình vành đai - con đường (belt-road initiative). Nếu không thực hiện được một trong hai điều trên đây, chúng ta sẽ khó lòng có thể gia nhập được “Câu lạc bộ các quốc gia phát triển”, mà nhiều lắm cũng chỉ có thể được xếp vào hạng trung bình.
Tất nhiên là chúng ta không thể thực hiện được, ngay trước cả khi xem xét những vấn đề đạo đức xoay quanh hai lựa chọn trên.
Dĩ nhiên, còn một khả năng cuối cùng mà tôi chưa xét đến - và tôi cũng muốn dành nó lại cho đoạn cuối cùng vì nó trùng hợp với ý kiến của cá nhân tôi. Đó là: Liệu chúng ta có nhất thiết phải tham gia vào bữa tiệc miên man đó hay không?
Bởi vì, xét cho cùng GDP - chỉ số chính mà chúng ta dùng để đo lường sự phát triển của nền kinh tế - không phải là một thước đo tốt cho một xã hội công bằng - dân chủ - văn minh. GDP không đo được mức độ tàn phá môi trường, mức độ sử dụng cạn kiệt các nguồn tài nguyên, hay mức độ hạnh phúc của dân chúng. GDP không thể hiện được sự bất bình đẳng về thu nhập và tài sản, không thể hiện được chất lượng cuộc sống của phần đông dân số, hay mức độ hài lòng của người dân về nền dân chủ [14]. Xét cho cùng, một người đàn ông độc thân, ly dị, làm một lúc 3 công việc và phải ăn ngoài suốt do không có thời gian, mắc nợ thẻ tín dụng kinh niên, bị stress dẫn đến béo phì và các bệnh khác sẽ làm GDP tăng lên nhiều so với một gia đình đầm ấm hạnh phúc, sống khiêm tốn đúng với khả năng của mình, hạn chế mắc nợ và không phải đến bệnh viện thường xuyên (trừ những lần khám định kỳ).
Nếu chúng ta dùng phương pháp đo lường sai, chúng ta sẽ theo đuổi sai mục tiêu: sự thừa mứa, phung phí, sự tiêu dùng vô độ, sự theo đuổi vật chất cũng như bỏ quên đi những giá trị khác giúp cho cuộc sống đáng sống hơn. Việt Nam là một quốc gia có thu nhập trung bình, đối với tôi cũng không hề gì, nếu như đất nước của tôi sống dân tộc được độc lập, dân chủ được tự do, dân sinh được hạnh phúc. Việt Nam là một quốc gia có thu nhập trung bình, đối với tôi cũng không hề gì, nếu như môi trường sống trong lành, thiên nhiên không bị tàn phá, và con người Việt Nam dừng theo đuổi những điều quá độ khiến cho chất lượng cuộc sống của họ giảm sút.
Ở cuối tập phim Pop Squad, nhân vật chính của chúng ta đã từ bỏ bữa tiệc miên man kia và bảo vệ nụ cười của một đứa bé ngây thơ vô tội. Ông đã phản bội lại thế giới của những con người bất tử, và có lẽ đã hy vọng về một vũ trụ song song khác, nơi mà sự cách biệt giữa hai thế giới không cực đoan đến như thế.
Thế giới vốn dĩ bất công, chỉ là, chúng ta không cần phải làm thế. Buổi tiệc bất tận kia, chúng ta có thể không tham gia.
__________________
Cảnh trong phim Pop Squad. Rất đáng xem.
Nhận xét
Đăng nhận xét